Video giới thiệu thư viện trường tiểu học xã Hưng Vũ
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường Tiểu học Hưng Vũ - Hưng Vũ - Lạng Sơn
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cuộc đời của Pi

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Dương Thị Soi
Ngày gửi: 09h:07' 10-04-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Dương Thị Soi
Ngày gửi: 09h:07' 10-04-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Cuộc đời của Pi
-Yann MartelEbook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Mục Lục
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32
Chương 33
Chương 34
Chương 35
Chương 36
Phần 2 : Thái Bình Dương
Chương 37
Chương 38
Chương 39
Chương 40
Chương 41
Chương 42
Chương 43
Chương 44
Chương 45
Chương 46
Chương 47
Chương 48
Chương 49
Chương 50
Chương 51
Chương 52
Chương 53
Chương 54
Chương 55
Chương 56
Chương 57
Chương 58
Chương 59
Chương 60
Chương 61
Chương 62
Chương 63
Chương 64
Chương 65
Chương 66
Chương 67
Chương 68
Chương 69
Chương 70
Chương 71
Chương 72
Chương 73
Chương 74
Chương 75
Chương 76
Chương 77
Chương 78
Chương 80
Chương 81
Chương 82
Chương 83
Chương 84
Chương 85
Chương 86
Chương 87
Chương 88
Chương 89
Chương 90
Chương 91
Chương 92
Chương 93
Chương 94
Phần 3 : Trạm xá Benôt Juarez, Tomatlan, Mexico
Chương 95
Chương 96
Chương 97
Chương 98
Chương 99
Chương 100
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Cuốn sách này được Yann Martel viết vào năm 1996 và được tặng giải thưởng Man Booker 2002.
Ông sinh ra ở Tây Ba Nha nhưng hiện đang sống tại Motreal, Canada.
"Cuốn sách là một câu chuyện hiện thực sống động về sự sống sót giữa biển khơi. Một mặt là
chuyện thám hiểm, một minh chứng về việc hoàn cảnh cùng quẫn làm thay đổi con người như thế nào.
Mặt khác là sự suy ngẫm sâu xa về vai trò của tôn giáo trong đời sống, về bản chất của động vật, thiên
nhiên và con người. Ngôn ngữ của ông sống động và ấn tượng. Trí tưởng tượng rộng lớn, khả năng
thuyết phục gần như không giới hạn. Yann Martel sẽ trở thành một trong những nhà văn Canada vĩ đại
nhất" (The Hamilton Spectator).
Ghi Chú Của Tác Giả
Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm 1996, cuốn thứ hai của tôi, một cuốn tiểu
thuyết ra mắt bạn đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng túng, hoặc kết án tử hình
nó bằng những lời khen nhạt nhẽo. Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón nghề và nhào lộn trong
rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì. Cuốn sách không nhúc nhích được tí nào.
Sách xếp trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn
sách của tôi là thằng nhóc oặt oẹo và không ai muốn lấy vào đội của mình. Nó im lìm và nhanh chóng
biến mất.
Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi lại bắt tay vào viết một cuốn khác, một
tiểu thuyết có khung cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt rứt không yên. Vả
lại vẫn còn ít tiền.
Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất bất
cứ sinh linh nào nếu muốn hết bồn chồn thì cứ đến ấn Độ và làm một việc gì đó trong một thời gian
nhất định, thứ hai: ở đó có thể sống dài dài với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một tiếu thuyết có
khung cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì đên Bồ Đào Nha thời 1939.
Trước đó tôi đã từng ở ấn Độ, miền Bắc, năm tháng trời. Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì cho
chuyến đi đầu tiên ấy đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị có một chữ thôi. Khi tôi hàn huyên
về các dự định cho chuyến đi với một người bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta thủng thẳng nói, “ở ấn
Độ người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ chẳng hạn như là bamboozle. “Tôi
nhớ đến câu nói ấy của anh ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để hạ cánh xuống Dehli, và từ
bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái thể giới điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt nhưng vần
đâu ra đấy của ấn Độ. Tôi đã có dịp dùngđến cái từ ấy, và nói thực tình, nói cũngđắc lực. Tôi bảo một
thấy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá vé đắt đến thế kia à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ? Thầy
ký mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa ngài! Không có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả.
Chúng tôi nói đúng giá vé đấy ạ.”
Lần thứ hai đi ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ yên
vị ở một đồn điền trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng rõ ràng mình đang ngồi
ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một tách trà nghi ngút. Những
triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới chân, và tiếng kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp
đầy màng nhĩ tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo len mỏng nhẹ vào buổi sớm mai và
chiều tà, còn cả ngày có thể mặc một cái gì đó ngắn tay. Và trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý
lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác phẩm hư cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến
đổi hiện thực một cách có chọn lọc, đúng không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực để vắt lấy cái cốt lõi
của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi có cần gì phải đi Bổ Đào Nha đúng chưa nào?
Bà chủ đồn điền sẽ kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đấu tranh đánh đuổi người Anh. Chúng
tôi sẽ chọn món cho bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết, tôi sẽ đi dạo trên
các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.
Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn. Lúc
đó tôi đang ở Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại ở trung du, cũng có vài chú khỉ
nhưng không có vườn chè nào. Đối với các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự khốn khổ. Bạn
có chủ đề tốt, câu chữ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn dựng lên thật sống động đến mức muốn đi
xin giấy khai sinh cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã vạch ra hết cả, thật lớn lao,
giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn hòi đâu ra đấy, thu thập đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội,
khí hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối
nhau thật tự nhiên, lấp lánh, căng thẳng. Những đoạn miêu tả bùng lên đầy màu sắc, tương phản và các
chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất
cả những cái đó chẳng hợp thành một cái gì cả. Mặc cho những hứa hẹn sáng lạn và hiển nhiên của câu
chuyện, sẽ đến lúc bạn chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn luôn thôi thúc bạn viết nó ra bấy lâu nay
lại rót vào tai bạn một sự thật rõ ràng và khủng khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái
tia lửa có khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ liệu lịch sự hoặc ẩm thực của
bạn đúng hay là sai. Câu chuyện của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của vấn
đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một thảm hoạ tàn hại linh hồn, tôi phải nói với bạn
như vậy. Khi tỉnh lại, mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đó, đến thắt ruột thắt gan.
Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn tiểu thuyết không thành ấy vào phong bì.
Tôi gửi chúng đến một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng hư cấu và quẳng cái
phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức. “Sẽ ra sao đây hở
Tolstoy?”, tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác cho cuộc đời của mày không?”
Gì thì gì, vẫn còn một ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi nhà
bưu điện và quyết định đi thám hiểm miền Nam ấn Độ.
Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời: “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi lúc ấy,
bác sĩ là những người phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua khỏi chỗ quành
trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn, và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của nạn nhân và các cặp
mắt sẽ dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị đốc tờ của tôi không phải là bác
sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp họ kiện chính phủ về vụ tai nạn,
tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự chỉ là cử nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ
gào thét đòi biết cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý nghĩa gì không, và tôi sẽ phải thú nhận rằng tôi
chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân và vân vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn,
một sự thật tím bầm và tủi hổ.
Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái danh phận nhà văn ấy. Họ bảo: “Một
nhà văn ư? Thật chứ? Tôi có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện đó chỉ nhỉnh
hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi, thiếu sức sống.
Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong Liên hiệp Anh về phía nam Madras,
ngay trên bờ biển Tamil Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất không có nghĩa lí
gì của ấn Độ (so về diện tích thì đảo Price Edward là một lãnh thổ khổng lồ của Canada), nhưng lịch
sử đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ của lãnh thổ ấn Độ thuộc Pháp, cho
dù lãnh thổ này chỉ là một bộ phận khiêm tốn nhất trong các vương quốc thuộc địa ngày xưa. Người
Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người Anh, muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật
mãi mới chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm các hải cảng nho nhỏ. Họ bám vào những hai cảng
này trong gần ba trăm năm. Họ rời Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những toà nhà trắng xinh xắn,
những đường phố rộng chạy vuông góc với nhau, những tên phố như rue de la Marinne, và Saint
Louis, và danh từ kepis, chỉ loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.
Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House, phố Nehru. Một gian phòng rộng, tường
màu xanh lá cây, trần cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí ẩm ướt. Quán kê
chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được chỗ nào thì ngồi,
chung bàn với người nào thì chịu người ấy. Cà phê thì ngon, lại có bán cả bánh mì nướng giòn. Rất dễ
bắt chuyện. Và thế là, một ông già quắc thước mắt sáng với những lọn tóc trắng phau đang nói chuyện
với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng Canada đúng là lạnh, rằng có những vùng đúng là nói tiếng
Pháp, và rằng tôi đúng là thích ấn Độ, vân vân và vân vân - một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy
giữa những người bản xứ tò mò hiếu khách với dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi nói là nhà văn, ông
già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi. Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn
ra tính tiền.
Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến anh tin vào Thượng đế.”
Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại là dòng Thánh Chứng(1) đang gõ cửa?
Tôi hỏi: “Chuyện của cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương quốc La Mã phải
không ạ?”
“Không."
“Biết đâu ông lão lại là người rao giảng đạo Hồi. “Thế có xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII
không ạ?”
“Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry này mới vài năm trước đây, và kết thúc,
tôi xin nói để ông hay, ở ngay chính quê hương của ông.”
“Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”
“Đúng như vậy.”
“Thế thì cao cấp quá.”
”Không cao đến nỗi ông không với tới được.”
Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự giới
thiệu làm quen nhau. Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói. “Nào, cụ làm ơn kể câu chuyện đó
đi.”
“Anh phải thật chú ý nghe mới được,” ông lão trả lời.
“Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.
“Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông lão hỏi.
“Tôi vừa mới tới đó hôm qua.”
“Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”
“Dạ có.”
“Hiện vẫn còn một tàu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con đi chơi. Nhưng trước đây ngày nào
cũng có tàu chạy, mỗi giờ hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”
“Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn hồng.”
“Đúng rồi. Thế còn trạm kia.”
“Tôi không nhớ.”
“Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm đỗ:
Roseville và Zootown. Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo Pondicherry.”
Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh phải nói chuyện với cậu ấy,” ông lão
bảo tôi, về nhân vật chính. “Tôi biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải hỏi chuyện cậu ấy,
với tất cả các thắc mắc của anh.”
Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ mang họ Patel trong danh bạ điện thoại, tôi
đã tìm ra người ấy, nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi quay số phone của anh
ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn nghe được âm sắc ấn Độ, nhẹ thôi nhưng không thể lẫn vào
đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí. “Chuyện đã lâu lắm rồi,” anh nói. Nhưng rồi
anh vẫn đồng ý gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho tôi xem cuốn nhật ký anh viết trong thời
gian xảy ra các sự kiện của câu chuyện. Anh cho tôi xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã có lúc
khiến anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ nhạt. Anh kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi
thì ghi chép. Gần một năm sau, khó khăn mãi tôi mới nhận đựơc một cuốn băng ghi âm và một bản
tường trình của Bộ Giao thông vận tải Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy
đồng ý với ông lão Adirubasamy rằng quả thực đây là câu chuyện sẽ khiến cho bạn đọc phải tin vào
Thượng đế.
Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức là
bằng chính lời kể của ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lệch hoặc nhầm lẫn sẽ
hoàn toàn là lỗi ở tôi.
Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên. Lòng
biết ơn của tôi đối với ông mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng việc tôi kể lại câu
chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng. Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt tôi và câu
chuyện này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải cảm ơn ba vị quan chức có
phẩm chất chuyên nghiệp mẫu mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm đại sứ quán Nhật ở
Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và đặc biệt là ông Tomohiro Okamoto,
thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa thổi được sự sống vào cuốn
tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar(2). Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của
tôi đến với cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng bảo trợ nghệ thuật Canada, vì nếu không thể chắp nối
được câu chuyện này, vốn chẳng dính dáng gì đến Bồ Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta, những công
dân, không hỗ trợ các nghệ sỹ, thì chúng ta sẽ giết trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện
thực thô thiển để rồi chỉ biết qua ngày đoạn tháng, không biết tin vào cái gì, với rặt nhưng giấc mơ vô
giá trị.
---------------------------------------------------------Ghi chú:
(1) Thánh chứng: Tạm dịch chữ Jehova's Witness, tên một dòng đạo Thiên Chúa, chuyên tâm phổ
biến tín ngưỡng này dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng kiến của Chúa Jesus.
(ND)
(2) Nhà văn Brazin đương đại, sống và làm việc ờ Porto Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio Grande do
Sul, miền nam Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có những tiểu thuyết nồi tiếng
như Đội quân một người, Con Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu thế giả hiệu, Vũ hội
của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do Thái – Nga di cư sang Brazil từ cuối thế kỷ
trước, từ những năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu thuyết và là đại biểu xuất sắc của
dòng văn học Do Thái – Brazil hiện nay. (ND)
Chương 1
Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.
Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở
lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì lạ. Tôi học chương
trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong
chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn nam thứ tư về tôn giáo của tôi
đề cập đến một số phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1)
vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng
tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài cu li bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình
thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi.
Có loài cu li hai móng và có loài culi ba móng , phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau
của tất cả culi đều có ba móng. Tôu có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba móng ngay
tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con vật này quả thật là
một sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhất của nó là thói vô vi. Nó ngủ hoặc nghĩ ngơi trung bình
hai mươi tiếng một ngày. Độ nghiên cứu của chúng tôi đã thí nghiệm theo dõi nếp ngủ của năm con
culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau khi chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa
nhựa màu đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng hôm sau, những cái đĩa này vẫn y nguyên, đầy nước và
đầy các loại côn trùng vùng vẫy trong đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặn, với nghiã
thoải mái nhất của từ bận rộn. Nó bò dọc cành cây trong tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng
bốn trăm mét một giờ. Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc độ hai trăm hai mươi mét
một giờ nếu có lý do chính đáng, bốn trăm bốn muơi lần chậm hơn tốc độ duy chuyển có lí do của loài
báo cheetah. Còn nếu ko có lí do gì, mỗi giờ chúng chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.
Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới chung quanh nó. Có thang điểm từ hai đến mười,
hai là mức độ lờ mờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả Beebe (1926) đã đánh giá
giác quan của lưỡi, da, mắt và tai của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ỡ mức ba. Nếu ta gặp một con
culi đang ngủ trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái, nó sẽ tỉnh dậy, và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ
nhìn quanh, nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại sao nó lại có thói quen nhìn quanh như
thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì thì cũng như một vệt nhoè nhoẹt mà thôi. Về nghe loài culi cũng ko
đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe. Tác giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang
ăn mà ta có gí súng bắn ngay bên cạnh thì nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà thôi. Và ta cũng ko nên đánh
giá quá mức cái khả năng ngửi được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả năng đánh
hơi thấy và tránh các cây mục, nhưng tác giả Bullock (1968) lại tường trình rằng ông "thường xuyên"
thấy các con culi ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục mà nó đã bò lên.
Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.
Chình là nhờ sự chạm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê ngủ mệt của culi đã giữ cho chúng không bị
xa vào vòng nguy hiểm, không rơi vào tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ. Lông culi là nơi cư
trú của một loại tảo có màu nâu trong mùa khô và màu xanh lá cây trong mùa mưa, giúp cho nó lẫn lộn
vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc chỉ như một phần sần sùi của một cái
cây.
Con culi ba móng sống cuộc đời chay tịnh, yên bình trong sự hài hoà hoàn hảo với môi trường .
"Với một nụ cười tốt lành thường trực trên môi", tác giả Tirler (1966) đã viết như vậy. Tôi đã tận mất
thấy nụ cười ấy. Tôi ko có tính thích gán cho loài vật những tính cách và tình cảm của con người,
nhưng đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn những con culi đang trong tư thế
nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như mình đứng truớc những đạo sĩ yoga ở tư thế lộn ngược đang chìm sâu
trong suy tưởng, hoặc những ẩn sĩ đang nguyện cầu khẩn thiết, những đấng hiền triết có cuộc sống bay
bổng đầy những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò dẫm kiểu khoa học của tôi không thể nào vươn tới
được.
Đôi khi tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn học với tôi trong môn nghiên cứu tôn
giáo - những kẻ theo thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là dưới, luôn ghê tởm lý
lẽ vốn là vàng ròng của những người thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi ba móng; còn con
culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì lại khiến tôi nghĩ tới Thương Đế.
Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các dồng nghiệp khoa học. Các khoa học gia là một đám người
thân thiện, vô thần, chăm chỉ, thích rượu bia vá luc không bận bịu với khoa học thì họ chỉ quan tâm
đến tình dục, cờ vua và bóng chày.
Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng bốn
năm liền. Tôi dành được tất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật học. Nếu như tôi
không giành được phần thưởng nào của khoa nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giản là khoa này chẳng có
một phần thưởng nào dành cho sinh viên ( Chúng ta đều biết rằng các phần thưởng cho việc nghiên
cứu tín ngưỡng ko nằm trong tay đám phàm phu tục tử như chúng ta :D) Cón tấm Huân chương Học
Thuật cua ngài Tổng đốc, phần thưởng cao quí nhất của Đại học Toronto cho sinh viên phần lớn chỉ
dành cho các công dân Canada xuất sắc; nếu ko vì cái thằng cu ấy, da trắng hồng, an thịt bò, cổ to như
gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó chịu, thì tôi đã dành được nó rồi.
Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi người ta đã chịu nhiều đau đớn ở đời,
mỗi một nỗi đau mới sẽ vừa nặng trĩu mà cũng lại chẳng là gì....
Cuộc đời tôi cũng giống như một bức tranh mementomori (2) troong nghệ thuật Châu Âu: lúc nào
cũng có một chiếc đầu lâu nhe răng cuời bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du của ham muốn
nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn nó và bảo: " Mày chọn nhầm đối tượng rồi. Mày có
quyền ko tin vào cuộc đời, nhưng tao lại ko tin vào sự chết. Đi chỗ khác!". Chiếc đầu lâu nhúc nhắc
rồi nhích lại gần hơn nhưng tôi chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ bám riết lấy sự sống như vậy ko
phải là vì nhu cầu sinh học - đó là sự ghen tị. Sự sống đẹp đến nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối
tình tư vị đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất cứ thứ gì nó có thể động đến. Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ
qua, mất mát vài thứ chẳng gì đáng kể, và nỗi u buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu trắng hồng
lại được thưởng cả học bổng Rhodes. Tôi yêu hắn và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại
Oxford. Nếu như Lakshmi, nữ thần tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân sủng của người thì
Oxford sẽ đứng thứ năm trong danh sách các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau
Mecca, Varanasi, Jerusalem và Paris.
Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một nhận xét rằng cà-vạt là một cái thòng
lọng, và mặc dù lộn ngược, nó sẽ treo cổ nguời ta đến chết nếu ko thận trọng.
Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của ấn Độ, nhớ các món ăn, bọn thằn lằn bò trên tường nhà,
phim kịch hát trên truyền hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ đến cả những
cuộc bàn tán về các trận đấu cricket (3), nhưng tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại tuy có hơi quá lạnh
đối với người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh hăng hái, nhưng đầu tóc để ko
được đẹp. Dù sao Pondicherry chẳng còn có cái gì để tôi muốn quay về.
Richard Parker vẫn ỡ bên tôi. Chưa khi nào
-Yann MartelEbook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Mục Lục
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32
Chương 33
Chương 34
Chương 35
Chương 36
Phần 2 : Thái Bình Dương
Chương 37
Chương 38
Chương 39
Chương 40
Chương 41
Chương 42
Chương 43
Chương 44
Chương 45
Chương 46
Chương 47
Chương 48
Chương 49
Chương 50
Chương 51
Chương 52
Chương 53
Chương 54
Chương 55
Chương 56
Chương 57
Chương 58
Chương 59
Chương 60
Chương 61
Chương 62
Chương 63
Chương 64
Chương 65
Chương 66
Chương 67
Chương 68
Chương 69
Chương 70
Chương 71
Chương 72
Chương 73
Chương 74
Chương 75
Chương 76
Chương 77
Chương 78
Chương 80
Chương 81
Chương 82
Chương 83
Chương 84
Chương 85
Chương 86
Chương 87
Chương 88
Chương 89
Chương 90
Chương 91
Chương 92
Chương 93
Chương 94
Phần 3 : Trạm xá Benôt Juarez, Tomatlan, Mexico
Chương 95
Chương 96
Chương 97
Chương 98
Chương 99
Chương 100
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Cuốn sách này được Yann Martel viết vào năm 1996 và được tặng giải thưởng Man Booker 2002.
Ông sinh ra ở Tây Ba Nha nhưng hiện đang sống tại Motreal, Canada.
"Cuốn sách là một câu chuyện hiện thực sống động về sự sống sót giữa biển khơi. Một mặt là
chuyện thám hiểm, một minh chứng về việc hoàn cảnh cùng quẫn làm thay đổi con người như thế nào.
Mặt khác là sự suy ngẫm sâu xa về vai trò của tôn giáo trong đời sống, về bản chất của động vật, thiên
nhiên và con người. Ngôn ngữ của ông sống động và ấn tượng. Trí tưởng tượng rộng lớn, khả năng
thuyết phục gần như không giới hạn. Yann Martel sẽ trở thành một trong những nhà văn Canada vĩ đại
nhất" (The Hamilton Spectator).
Ghi Chú Của Tác Giả
Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm 1996, cuốn thứ hai của tôi, một cuốn tiểu
thuyết ra mắt bạn đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng túng, hoặc kết án tử hình
nó bằng những lời khen nhạt nhẽo. Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón nghề và nhào lộn trong
rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì. Cuốn sách không nhúc nhích được tí nào.
Sách xếp trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn
sách của tôi là thằng nhóc oặt oẹo và không ai muốn lấy vào đội của mình. Nó im lìm và nhanh chóng
biến mất.
Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi lại bắt tay vào viết một cuốn khác, một
tiểu thuyết có khung cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt rứt không yên. Vả
lại vẫn còn ít tiền.
Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất bất
cứ sinh linh nào nếu muốn hết bồn chồn thì cứ đến ấn Độ và làm một việc gì đó trong một thời gian
nhất định, thứ hai: ở đó có thể sống dài dài với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một tiếu thuyết có
khung cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì đên Bồ Đào Nha thời 1939.
Trước đó tôi đã từng ở ấn Độ, miền Bắc, năm tháng trời. Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì cho
chuyến đi đầu tiên ấy đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị có một chữ thôi. Khi tôi hàn huyên
về các dự định cho chuyến đi với một người bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta thủng thẳng nói, “ở ấn
Độ người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ chẳng hạn như là bamboozle. “Tôi
nhớ đến câu nói ấy của anh ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để hạ cánh xuống Dehli, và từ
bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái thể giới điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt nhưng vần
đâu ra đấy của ấn Độ. Tôi đã có dịp dùngđến cái từ ấy, và nói thực tình, nói cũngđắc lực. Tôi bảo một
thấy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá vé đắt đến thế kia à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ? Thầy
ký mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa ngài! Không có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả.
Chúng tôi nói đúng giá vé đấy ạ.”
Lần thứ hai đi ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ yên
vị ở một đồn điền trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng rõ ràng mình đang ngồi
ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một tách trà nghi ngút. Những
triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới chân, và tiếng kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp
đầy màng nhĩ tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo len mỏng nhẹ vào buổi sớm mai và
chiều tà, còn cả ngày có thể mặc một cái gì đó ngắn tay. Và trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý
lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác phẩm hư cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến
đổi hiện thực một cách có chọn lọc, đúng không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực để vắt lấy cái cốt lõi
của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi có cần gì phải đi Bổ Đào Nha đúng chưa nào?
Bà chủ đồn điền sẽ kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đấu tranh đánh đuổi người Anh. Chúng
tôi sẽ chọn món cho bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết, tôi sẽ đi dạo trên
các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.
Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn. Lúc
đó tôi đang ở Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại ở trung du, cũng có vài chú khỉ
nhưng không có vườn chè nào. Đối với các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự khốn khổ. Bạn
có chủ đề tốt, câu chữ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn dựng lên thật sống động đến mức muốn đi
xin giấy khai sinh cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã vạch ra hết cả, thật lớn lao,
giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn hòi đâu ra đấy, thu thập đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội,
khí hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối
nhau thật tự nhiên, lấp lánh, căng thẳng. Những đoạn miêu tả bùng lên đầy màu sắc, tương phản và các
chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất
cả những cái đó chẳng hợp thành một cái gì cả. Mặc cho những hứa hẹn sáng lạn và hiển nhiên của câu
chuyện, sẽ đến lúc bạn chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn luôn thôi thúc bạn viết nó ra bấy lâu nay
lại rót vào tai bạn một sự thật rõ ràng và khủng khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái
tia lửa có khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ liệu lịch sự hoặc ẩm thực của
bạn đúng hay là sai. Câu chuyện của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của vấn
đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một thảm hoạ tàn hại linh hồn, tôi phải nói với bạn
như vậy. Khi tỉnh lại, mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đó, đến thắt ruột thắt gan.
Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn tiểu thuyết không thành ấy vào phong bì.
Tôi gửi chúng đến một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng hư cấu và quẳng cái
phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức. “Sẽ ra sao đây hở
Tolstoy?”, tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác cho cuộc đời của mày không?”
Gì thì gì, vẫn còn một ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi nhà
bưu điện và quyết định đi thám hiểm miền Nam ấn Độ.
Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời: “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi lúc ấy,
bác sĩ là những người phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua khỏi chỗ quành
trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn, và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của nạn nhân và các cặp
mắt sẽ dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị đốc tờ của tôi không phải là bác
sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp họ kiện chính phủ về vụ tai nạn,
tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự chỉ là cử nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ
gào thét đòi biết cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý nghĩa gì không, và tôi sẽ phải thú nhận rằng tôi
chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân và vân vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn,
một sự thật tím bầm và tủi hổ.
Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái danh phận nhà văn ấy. Họ bảo: “Một
nhà văn ư? Thật chứ? Tôi có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện đó chỉ nhỉnh
hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi, thiếu sức sống.
Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong Liên hiệp Anh về phía nam Madras,
ngay trên bờ biển Tamil Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất không có nghĩa lí
gì của ấn Độ (so về diện tích thì đảo Price Edward là một lãnh thổ khổng lồ của Canada), nhưng lịch
sử đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ của lãnh thổ ấn Độ thuộc Pháp, cho
dù lãnh thổ này chỉ là một bộ phận khiêm tốn nhất trong các vương quốc thuộc địa ngày xưa. Người
Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người Anh, muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật
mãi mới chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm các hải cảng nho nhỏ. Họ bám vào những hai cảng
này trong gần ba trăm năm. Họ rời Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những toà nhà trắng xinh xắn,
những đường phố rộng chạy vuông góc với nhau, những tên phố như rue de la Marinne, và Saint
Louis, và danh từ kepis, chỉ loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.
Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House, phố Nehru. Một gian phòng rộng, tường
màu xanh lá cây, trần cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí ẩm ướt. Quán kê
chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được chỗ nào thì ngồi,
chung bàn với người nào thì chịu người ấy. Cà phê thì ngon, lại có bán cả bánh mì nướng giòn. Rất dễ
bắt chuyện. Và thế là, một ông già quắc thước mắt sáng với những lọn tóc trắng phau đang nói chuyện
với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng Canada đúng là lạnh, rằng có những vùng đúng là nói tiếng
Pháp, và rằng tôi đúng là thích ấn Độ, vân vân và vân vân - một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy
giữa những người bản xứ tò mò hiếu khách với dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi nói là nhà văn, ông
già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi. Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn
ra tính tiền.
Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến anh tin vào Thượng đế.”
Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại là dòng Thánh Chứng(1) đang gõ cửa?
Tôi hỏi: “Chuyện của cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương quốc La Mã phải
không ạ?”
“Không."
“Biết đâu ông lão lại là người rao giảng đạo Hồi. “Thế có xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII
không ạ?”
“Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry này mới vài năm trước đây, và kết thúc,
tôi xin nói để ông hay, ở ngay chính quê hương của ông.”
“Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”
“Đúng như vậy.”
“Thế thì cao cấp quá.”
”Không cao đến nỗi ông không với tới được.”
Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự giới
thiệu làm quen nhau. Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói. “Nào, cụ làm ơn kể câu chuyện đó
đi.”
“Anh phải thật chú ý nghe mới được,” ông lão trả lời.
“Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.
“Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông lão hỏi.
“Tôi vừa mới tới đó hôm qua.”
“Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”
“Dạ có.”
“Hiện vẫn còn một tàu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con đi chơi. Nhưng trước đây ngày nào
cũng có tàu chạy, mỗi giờ hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”
“Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn hồng.”
“Đúng rồi. Thế còn trạm kia.”
“Tôi không nhớ.”
“Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm đỗ:
Roseville và Zootown. Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo Pondicherry.”
Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh phải nói chuyện với cậu ấy,” ông lão
bảo tôi, về nhân vật chính. “Tôi biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải hỏi chuyện cậu ấy,
với tất cả các thắc mắc của anh.”
Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ mang họ Patel trong danh bạ điện thoại, tôi
đã tìm ra người ấy, nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi quay số phone của anh
ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn nghe được âm sắc ấn Độ, nhẹ thôi nhưng không thể lẫn vào
đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí. “Chuyện đã lâu lắm rồi,” anh nói. Nhưng rồi
anh vẫn đồng ý gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho tôi xem cuốn nhật ký anh viết trong thời
gian xảy ra các sự kiện của câu chuyện. Anh cho tôi xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã có lúc
khiến anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ nhạt. Anh kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi
thì ghi chép. Gần một năm sau, khó khăn mãi tôi mới nhận đựơc một cuốn băng ghi âm và một bản
tường trình của Bộ Giao thông vận tải Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy
đồng ý với ông lão Adirubasamy rằng quả thực đây là câu chuyện sẽ khiến cho bạn đọc phải tin vào
Thượng đế.
Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức là
bằng chính lời kể của ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lệch hoặc nhầm lẫn sẽ
hoàn toàn là lỗi ở tôi.
Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên. Lòng
biết ơn của tôi đối với ông mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng việc tôi kể lại câu
chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng. Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt tôi và câu
chuyện này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải cảm ơn ba vị quan chức có
phẩm chất chuyên nghiệp mẫu mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm đại sứ quán Nhật ở
Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và đặc biệt là ông Tomohiro Okamoto,
thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa thổi được sự sống vào cuốn
tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar(2). Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của
tôi đến với cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng bảo trợ nghệ thuật Canada, vì nếu không thể chắp nối
được câu chuyện này, vốn chẳng dính dáng gì đến Bồ Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta, những công
dân, không hỗ trợ các nghệ sỹ, thì chúng ta sẽ giết trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện
thực thô thiển để rồi chỉ biết qua ngày đoạn tháng, không biết tin vào cái gì, với rặt nhưng giấc mơ vô
giá trị.
---------------------------------------------------------Ghi chú:
(1) Thánh chứng: Tạm dịch chữ Jehova's Witness, tên một dòng đạo Thiên Chúa, chuyên tâm phổ
biến tín ngưỡng này dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng kiến của Chúa Jesus.
(ND)
(2) Nhà văn Brazin đương đại, sống và làm việc ờ Porto Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio Grande do
Sul, miền nam Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có những tiểu thuyết nồi tiếng
như Đội quân một người, Con Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu thế giả hiệu, Vũ hội
của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do Thái – Nga di cư sang Brazil từ cuối thế kỷ
trước, từ những năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu thuyết và là đại biểu xuất sắc của
dòng văn học Do Thái – Brazil hiện nay. (ND)
Chương 1
Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.
Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở
lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì lạ. Tôi học chương
trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong
chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn nam thứ tư về tôn giáo của tôi
đề cập đến một số phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1)
vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng
tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài cu li bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình
thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi.
Có loài cu li hai móng và có loài culi ba móng , phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau
của tất cả culi đều có ba móng. Tôu có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba móng ngay
tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con vật này quả thật là
một sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhất của nó là thói vô vi. Nó ngủ hoặc nghĩ ngơi trung bình
hai mươi tiếng một ngày. Độ nghiên cứu của chúng tôi đã thí nghiệm theo dõi nếp ngủ của năm con
culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau khi chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa
nhựa màu đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng hôm sau, những cái đĩa này vẫn y nguyên, đầy nước và
đầy các loại côn trùng vùng vẫy trong đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặn, với nghiã
thoải mái nhất của từ bận rộn. Nó bò dọc cành cây trong tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng
bốn trăm mét một giờ. Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc độ hai trăm hai mươi mét
một giờ nếu có lý do chính đáng, bốn trăm bốn muơi lần chậm hơn tốc độ duy chuyển có lí do của loài
báo cheetah. Còn nếu ko có lí do gì, mỗi giờ chúng chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.
Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới chung quanh nó. Có thang điểm từ hai đến mười,
hai là mức độ lờ mờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả Beebe (1926) đã đánh giá
giác quan của lưỡi, da, mắt và tai của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ỡ mức ba. Nếu ta gặp một con
culi đang ngủ trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái, nó sẽ tỉnh dậy, và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ
nhìn quanh, nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại sao nó lại có thói quen nhìn quanh như
thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì thì cũng như một vệt nhoè nhoẹt mà thôi. Về nghe loài culi cũng ko
đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe. Tác giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang
ăn mà ta có gí súng bắn ngay bên cạnh thì nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà thôi. Và ta cũng ko nên đánh
giá quá mức cái khả năng ngửi được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả năng đánh
hơi thấy và tránh các cây mục, nhưng tác giả Bullock (1968) lại tường trình rằng ông "thường xuyên"
thấy các con culi ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục mà nó đã bò lên.
Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.
Chình là nhờ sự chạm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê ngủ mệt của culi đã giữ cho chúng không bị
xa vào vòng nguy hiểm, không rơi vào tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ. Lông culi là nơi cư
trú của một loại tảo có màu nâu trong mùa khô và màu xanh lá cây trong mùa mưa, giúp cho nó lẫn lộn
vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc chỉ như một phần sần sùi của một cái
cây.
Con culi ba móng sống cuộc đời chay tịnh, yên bình trong sự hài hoà hoàn hảo với môi trường .
"Với một nụ cười tốt lành thường trực trên môi", tác giả Tirler (1966) đã viết như vậy. Tôi đã tận mất
thấy nụ cười ấy. Tôi ko có tính thích gán cho loài vật những tính cách và tình cảm của con người,
nhưng đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn những con culi đang trong tư thế
nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như mình đứng truớc những đạo sĩ yoga ở tư thế lộn ngược đang chìm sâu
trong suy tưởng, hoặc những ẩn sĩ đang nguyện cầu khẩn thiết, những đấng hiền triết có cuộc sống bay
bổng đầy những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò dẫm kiểu khoa học của tôi không thể nào vươn tới
được.
Đôi khi tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn học với tôi trong môn nghiên cứu tôn
giáo - những kẻ theo thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là dưới, luôn ghê tởm lý
lẽ vốn là vàng ròng của những người thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi ba móng; còn con
culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì lại khiến tôi nghĩ tới Thương Đế.
Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các dồng nghiệp khoa học. Các khoa học gia là một đám người
thân thiện, vô thần, chăm chỉ, thích rượu bia vá luc không bận bịu với khoa học thì họ chỉ quan tâm
đến tình dục, cờ vua và bóng chày.
Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng bốn
năm liền. Tôi dành được tất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật học. Nếu như tôi
không giành được phần thưởng nào của khoa nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giản là khoa này chẳng có
một phần thưởng nào dành cho sinh viên ( Chúng ta đều biết rằng các phần thưởng cho việc nghiên
cứu tín ngưỡng ko nằm trong tay đám phàm phu tục tử như chúng ta :D) Cón tấm Huân chương Học
Thuật cua ngài Tổng đốc, phần thưởng cao quí nhất của Đại học Toronto cho sinh viên phần lớn chỉ
dành cho các công dân Canada xuất sắc; nếu ko vì cái thằng cu ấy, da trắng hồng, an thịt bò, cổ to như
gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó chịu, thì tôi đã dành được nó rồi.
Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi người ta đã chịu nhiều đau đớn ở đời,
mỗi một nỗi đau mới sẽ vừa nặng trĩu mà cũng lại chẳng là gì....
Cuộc đời tôi cũng giống như một bức tranh mementomori (2) troong nghệ thuật Châu Âu: lúc nào
cũng có một chiếc đầu lâu nhe răng cuời bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du của ham muốn
nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn nó và bảo: " Mày chọn nhầm đối tượng rồi. Mày có
quyền ko tin vào cuộc đời, nhưng tao lại ko tin vào sự chết. Đi chỗ khác!". Chiếc đầu lâu nhúc nhắc
rồi nhích lại gần hơn nhưng tôi chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ bám riết lấy sự sống như vậy ko
phải là vì nhu cầu sinh học - đó là sự ghen tị. Sự sống đẹp đến nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối
tình tư vị đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất cứ thứ gì nó có thể động đến. Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ
qua, mất mát vài thứ chẳng gì đáng kể, và nỗi u buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu trắng hồng
lại được thưởng cả học bổng Rhodes. Tôi yêu hắn và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại
Oxford. Nếu như Lakshmi, nữ thần tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân sủng của người thì
Oxford sẽ đứng thứ năm trong danh sách các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau
Mecca, Varanasi, Jerusalem và Paris.
Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một nhận xét rằng cà-vạt là một cái thòng
lọng, và mặc dù lộn ngược, nó sẽ treo cổ nguời ta đến chết nếu ko thận trọng.
Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của ấn Độ, nhớ các món ăn, bọn thằn lằn bò trên tường nhà,
phim kịch hát trên truyền hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ đến cả những
cuộc bàn tán về các trận đấu cricket (3), nhưng tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại tuy có hơi quá lạnh
đối với người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh hăng hái, nhưng đầu tóc để ko
được đẹp. Dù sao Pondicherry chẳng còn có cái gì để tôi muốn quay về.
Richard Parker vẫn ỡ bên tôi. Chưa khi nào
 





